Hố chôn tập thể ở TP. Hồ Chí Minh và sự im lặng khó hiểu của chính quyền với các liệt sĩ?

Truyền thông nhà nước Việt Nam đưa tin, đêm ngày 13/6/2026, hàng nghìn phật tử, người dân tụng kinh, thắp hương xuyên đêm cầu siêu liệt sĩ, đồng bào ở công viên Lê Thị Riêng, TP. Hồ Chí Minh. 

Thông tin kể trên đã khiến cho công luận nhớ tới việc cựu chiến binh Mỹ Robert Connor – người đã từng cung cấp manh mối quan trọng liên quan đến một hố chôn tập thể tại khu vực Công viên Lê Thị Riêng. 

Điều đó đã và đang làm rúng động dư luận và dấy lên những câu hỏi nhức nhối về mặt trách nhiệm của chính quyền Việt Nam đối với các liệt sĩ đã mất tích trong chiến tranh. 

Sự kiện này không chỉ khơi lại nỗi đau chiến tranh sau gần 60 năm mà còn cho thấy hệ thống lưu trữ, quản lý và tìm kiếm thông tin liệt sĩ của Việt Nam có những lỗ hổng khó có thể chấp nhận. 

Công luận ngay lập tức đã đặt câu hỏi: Tại sao một sự thật lịch sử với quy mô hàng trăm sinh mạng là liệt sĩ ngay giữa lòng Sài Gòn lại phải mất nửa thế kỷ mới được nhà nước quan tâm, và vì sao manh mối ấy lại đến từ cựu chiến binh Mỹ mà không phải từ phía các cơ quan chức năng tại Việt Nam?

Theo giới chuyên gia, trong bất kỳ cuộc chiến nào, việc xác định danh tính, địa điểm hy sinh và quy tập thi thể những người ngã xuống luôn là nghĩa vụ thiêng liêng tối cao của mọi quốc gia. 

Cho dù, trong chiến tranh hồ sơ có thể thất lạc, nhưng khi hòa bình lập lại, công tác tìm kiếm các quân nhân mất tích lẽ ra phải được tiến hành một cách có hệ thống, liên tục và phải được coi trọng là nhiệm vụ quan trọng nhất. 

Vậy tại sao, trong suốt hàng chục năm qua, một hố chôn tập thể lớn của các chiến sĩ hy sinh trong trận chiến Mậu Thân (1968) tại Công viên Lê Thị Riêng, không có sự lên tiếng của các cơ quan chức năng? 

Và các ban ngành quản lý trong gần 6 thập kỷ đã ở đâu khi để một nấm mồ chung của cả trăm liệt sĩ bị lãng quên dưới lòng đất tại một công viên nhộn nhịp nằm giữa trung tâm thành phố lớn nhất của cả nước?

Điều khó hiểu hơn cả, đó là, cựu binh Mỹ Robert Connor từng chủ động liên hệ với cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại New York – để cung cấp thông tin về vụ việc này. Nhưng theo ông Robert cho biết hoàn toàn không nhận được phản hồi. 

Phải chăng, đây là sự quan liêu, thờ ơ không chỉ của Bộ Ngoại giao Việt Nam, mà kể cả các cơ quan chức năng khác như: Bộ Quốc Phòng, Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội v.v… 

Công luận đã đặt câu hỏi: đã có bao nhiêu nguồn tin tương tự từ các nhân chứng quốc tế đã từng bị bỏ lỡ hoặc bị chôn vùi trong các ngăn kéo trong gần 60 năm vừa qua? 

Cho dù, khi vụ việc kể trên mới đây được lãnh đạo cấp cao trực tiếp chỉ đạo và thúc đẩy mạnh mẽ, và công luận ghi nhận đó là một động thái cần thiết. 

Nhưng chính sự rầm rộ ở thời điểm hiện tại lại làm dấy lên câu hỏi: Tại sao cho đến bây giờ việc tìm kiếm các liệt sĩ lại được quan tâm? 

Được biết, trong nhiều năm qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã xây dựng được một cơ chế hợp tác nhân đạo rất hiệu quả trong việc tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh. Sự phối hợp này luôn được truyền thông ca ngợi. 

Thế nhưng, một thực tế trớ trêu và đau lòng là trong khi dữ liệu về phía Mỹ được lật tìm tỉ mỉ, thì thông tin về nơi an nghỉ của hàng trăm chiến sĩ Việt Nam lại phải chờ đợi vào sự xuất hiện và lòng trắc ẩn của một cựu binh Mỹ. 

Thực trạng này phơi bày một lỗ hổng lớn về hiệu quả của hệ thống lưu trữ, thu thập nhân chứng và năng lực chủ động của các cơ quan tìm kiếm liệt sĩ của Việt Nam trong suốt thời gian qua.

Với một sự chậm trễ kéo dài gần 60 năm, một khoảng thời gian quá dài cho những người mẹ, người vợ và những gia đình liệt sĩ phải mòn mỏi chờ đợi một câu trả lời cần phải có.

Trà My – Thoibao.de